Thứ tư , ngày 07/01/2009
   Bạn đang ở: Trang chủ » TIN TỨC » Giới thiệu sách » Niên giám Thông tin Khoa học xã hội số 3

Niên giám Thông tin Khoa học xã hội số 3

Document Actions
Số 3 của Niên giám Thông tin Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc. Nội dung sưu tập chuyên đề này gồm nhiều bài nghiên cứu, tổng hợp thông tin đáng chú ý về hoạt động khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam cũng như trên thế giới chủ yếu trong thời gian gần đây với những thông tin cập nhật được nhiều người quan tâm.


Bài Về phương pháp luận nghiên cứu văn hoá và con người của PGS., TS. Hồ Sĩ Quý đề cập đến nhiều vấn đề đã và đang được coi là vướng mắc đối với các nhà nghiên cứu về phương pháp luận trong nghiên cứu văn hoá và con người, đó là khái niệm phương pháp luận, phương pháp luận nghiên cứu văn hoá, phương pháp luận nghiên cứu con người, phương pháp luận nghiên cứu phức hợp, phương pháp luận về khái niệm người Việt, phương pháp luận về tính cách dân tộc.

Bài viết Đổi mới việc dạy triết học trong nhà trường đại học ở nước ta hiện nay theo hướng tiến bộ, đi lên chứ không phải thụt lùi của GS., TS. Nguyễn Trọng Chuẩn phân tích tính tất yếu của việc đổi mới phương thức và nội dung giảng dạy triết học trong nhà trường đại học ở Việt Nam hiện nay để theo kịp sự đổi mới toàn diện của đất nước và sự hội nhập quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trong điều kiện toàn cầu hoá; tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng không hứng thú học triết học, nhất là các chuyên ngành khác trong bộ môn chủ nghĩa Marx-Lenin; xem xét một số giải pháp đổi mới, giải quyết thực trạng hiện tồn để không chỉ trang bị thế giới quan và phương pháp luận mà còn trang bị văn hoá tư duy cho người học, cho thế hệ trẻ.

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, xã hội tri thức là một xã hội mà trong đó các thể chế và các tổ chức tạo khả năng cho con người và thông tin được phát triển không hạn chế, và chúng mở ra các cơ hội cho tất cả các loại tri thức được sản xuất hàng loạt và được sử dụng hàng loạt trong toàn xã hội. Bài Những cột trụ để xây dựng xã hội tri thức của PGS., TS. Nguyễn Văn Dân khẳng định, với bốn cột trụ chủ chốt là chính trị, kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo, xã hội tri thức hiện đại sẽ khắc phục được những khiếm khuyết của xã hội thông tin theo nghĩa cổ điển để có được đầy đủ những ưu việt của một xã hội phát triển bền vững. Tuy nhiên, phía trước của con đường tiến tới xã hội tri thức đang còn có rất nhiều thách thức mà cộng đồng quốc tế phải vượt qua. Chúng đòi hỏi cộng đồng quốc tế trên toàn thế giới phải hợp tác, nỗ lực hơn nữa trong việc thực hiện mọi ước mơ phát triển bền vững của loài người.

Nếu trước đây, toàn cầu hoá hiện ra trong nhận thức chủ yếu là một hiện tượng đa diện, phức tạp, không dễ nắm bắt, thì ngày nay toàn cầu hoá dường như đã lộ diện một cách rõ hơn, dễ nhận biết hơn với những ảnh hưởng, ý nghĩa (thuận và nghịch) ít nhiều có thể đo đếm được. Bảng chỉ số toàn cầu hoá 2007 là một cố gắng lượng hoá trình độ toàn cầu hoá của các quốc gia theo hướng đó. Thực tế ngày càng chỉ ra rằng, toàn cầu hoá, dù nhìn từ góc độ nào cũng không phải là sản phẩm nảy sinh từ ý muốn chủ quan của các cường quốc hay của một thế lực nào khác (dù thiện ý hay không thiện ý), mà trước hết, nó là kết quả khách quan của sự phát triển kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Bởi vậy, về cơ bản, toàn cầu hoá là một hiện tượng đi theo logic của tiến bộ xã hội. Nhưng cũng giống như mọi nấc thang tiến bộ khác, không có bước tiến bộ nào thuần tuý bằng phẳng, giản đơn. Để tiến bộ, đôi khi sự phát triển lại phải đi theo những lối quanh co, thậm chí, những bước thụt lùi với những cái giá phải trả có thể sẽ rất đắt nếu như các chính phủ thiếu tầm nhìn xa và không kịp thời đưa ra được những quyết sách thông minh. Với nội dung chính như vậy, bài viết Nhận thức lại toàn cầu hoá và chỉ số toàn cầu hoá của Việt Nam trong 72 nước năm 2007 của PGS., TS. Hồ Sĩ Quý đề cập tới sáu nội dung chính: thời điểm xuất hiện toàn cầu hoá; bộ mặt của toàn cầu hoá; toàn cầu hoá và tình trạng đói nghèo; vấn đề toàn cầu hoá văn hoá; toàn cầu hoá ở châu Á; và chỉ số toàn cầu hoá.

Trên cơ sở xác định năm đặc trưng của khoa học xã hội và nhân văn trong so sánh với khoa học tự nhiên và công nghệ, bài Nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội - nhân văn của GS., TSKH. Trần Ngọc Thêm bàn về năm vấn đề nảy sinh trong nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội - nhân văn là: phân loại khoa học xã hội - nhân văn, định vị khoa học xã hội - nhân văn, quan hệ của khoa học xã hội - nhân văn với đối tượng nghiên cứu, quan hệ của khoa học xã hội - nhân văn với con người, và đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn.

Về vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam, bài viết của GS., TS. Hoàng Chí Bảo, Hội đồng Lý luận trung ương xem xét mối quan hệ giữa an sinh xã hội với phát triển nhanh và bền vững; phân tích thành tựu, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam qua 20 năm đổi mới; bàn về cách tiếp cận và nhận biết về lý luận an sinh xã hội, đồng thời trình bày vắn tắt một số vấn đề đặt ra về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn trong những năm sắp tới.

Tuy có nhiều biến động và tốc độ tăng trưởng suy giảm đôi chút so với dự báo, nền kinh tế thế giới vẫn diễn tiến với nhiều dấu hiệu khả quan trong năm 2007. Những con số, động thái, sự kiện… diễn ra ở các khu vực, nhóm nước hay những nền kinh tế gây ấn tượng trong những năm gần đây đã tạo nên một bức tranh kinh tế thế giới với những đặc trưng nổi bật trong năm qua. Bối cảnh, những yếu tố tác động cũng như nguyên nhân định hình những đặc trưng chính của nền kinh tế toàn cầu được nhiều tổ chức quốc tế, giới nghiên cứu, chuyên gia tổng hợp cùng những phân tích, nhận định và dự báo triển vọng của năm 2008 là nội dung chính mà TS. Đinh Thị Thơm muốn giới thiệu trong bài viết Kinh tế thế giới năm 2007: những nét khái quát.

Khác với các năm trước đây, năm nay, UNDP (Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc) công bố Báo cáo phát triển con người cho cả hai năm 2007 và 2008 với chủ đề “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách” với bốn chương chính phân tích chi tiết những thách thức về khí hậu trong thế kỷ XXI, làm rõ những nguy cơ và tổn thương trong một thế giới bất bình đẳng trước những chấn động khí hậu, từ đó đưa ra những chiến lược giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu, kêu gọi sự đoàn kết và hợp tác hành động giữa các quốc gia, các cộng đồng trên thế giới. Báo cáo đưa ra lời cảnh báo nếu không giải quyết sớm vấn đề này thì sự phát triển con người bền vững sẽ gặp trở ngại lớn không chỉ ở hiện tại mà còn ở tương lai và Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng nghiêm trọng của sự biến đổi khí hậu. Đó là những nội dung chủ yếu mà bài Báo cáo phát triển con người 2007 / 2008 của UNDP và một số vấn đề của Việt Nam của NCV. Phạm Thu Trang, Viện Thông tin KHXH đề cập đến.

Nghiên cứu Tổng quan tình hình thế giới năm 2007 của tập thể tác giả Phòng Thông tin chính trị và những vấn đề chiến lược phát triển, Viện Thông tin KHXH phân tích mối quan hệ giữa các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, thêm vào đó là châu Phi, Liên minh châu Âu, ASEAN; nhận định khái lược về các điểm nóng trong đời sống chính trị thế giới năm 2007, đó là vấn đề hạt nhân của Iran, khủng hoảng hạt nhân tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, tiến trình chính trị ở Iraq, chủ nghĩa khủng bố và vấn đề năng lượng.

Nâng cao tính cạnh tranh kinh tế để tham gia hiệu quả và ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay đang trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển có thu nhập thấp gần như chỉ thuần tuý dựa vào lợi thế so sánh tĩnh, lợi thế so sánh cấp thấp để có được tăng trưởng như những giai đoạn vừa qua, thì việc lựa chọn phương thức và những nguồn lực có lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được tăng trưởng chất lượng và bền vững, càng được đặc biệt quan tâm. Cung cấp một số quan niệm, phân tích, đánh giá về lợi thế cạnh tranh dựa trên lý thuyết cổ điển cũng như hiện đại và giới thiệu xu hướng lựa chọn chiến lược, giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam thời WTO của một số chuyên gia là nội dung chính của bài viết Nâng cao tính cạnh tranh kinh tế: cơ sở lý thuyết và giải pháp đối với Việt Nam của TS. Đinh Thị Thơm.

Ở lĩnh vực luật pháp, Niên giám Thông tin Khoa học xã hội giới thiệu bài viết Một số nét nổi bật trong nghiên cứu luật học năm 2007 của tập thể tác giả Phòng Thông tin Nhà nước và Pháp luật, Viện Thông tin KHXH với tình hình nghiên cứu luật Hiến pháp, luật hành chính, luật Nhà nước, luật Kinh tế, thương mại; với những vấn đề nổi bật về tư pháp, hình sự, tố tụng và thi hành án; với những vấn đề nổi bật về pháp luật nước ngoài, trong đó có đề cập đến Hiệp ước Lisbon, Hiến chương ASEAN, Hiến pháp Thái Lan, v.v…

Năm 2007, cùng với các ngành khoa học xã hội khác, giới sử học cả nước có nhiều hoạt động sôi nổi trong các chủ đề nghiên cứu, mà có thể nói tâm điểm là cuộc hội thảo “Sử học Việt Nam trước nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc” do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/08/2007. Để phản ánh được phần nào tình hình nghiên cứu đó, bài viết Tình hình nghiên cứu sử học năm 2007 ở Việt Nam của NCV. Thanh Hoà điểm qua tình hình nghiên cứu của đời sống sử học trong nước qua các tạp chí “Nghiên cứu lịch sử”, “Xưa và nay”; đề cập đến một số vấn đề xung quanh chủ đề “Sử học trước nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc”; giới thiệu những hoạt động khoa học tiêu biểu diễn ra trong năm của giới sử học Việt Nam.

Ở lĩnh vực khảo cổ học, Niên giám Thông tin Khoa học xã hội giới thiệu bài viết của PGS., TS. Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, Viện KHXH Việt Nam về hoạt động khảo cổ học năm 2007 ở bốn lĩnh vực lớn: khảo cổ học thời đại Đá, thời đại Kim khí, khảo cổ học Lịch sử và Champa - Óc Eo.

Bài viết của TS. Nguyễn Huy Cẩn cung cấp thông tin tương đối toàn diện về tình hình ngôn ngữ học năm 2007 ở cả trong nước và nước ngoài với những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học và tiếng Việt, vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, phương diện ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và từ điển tiếng Việt, vấn đề tiếng Việt và các ngoại ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, ngôn ngữ học ứng dụng và những nghiên cứu cấp độ ngôn ngữ ở nước ngoài, v.v…

Mời bạn đọc xem thêm các bài viết: “Có hay không sự xuất hiện trở lại một cuộc suy thoái mang tính cơ cấu diễn ra đồng thời với các chấn động chu kỳ trong nền kinh tế thế giới?” của PGS., TS. Nguyễn Xuân Thắng, “Văn học Việt Nam đổi mới trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế”, “Lý luận văn học Đông Âu thế kỷ XX” của PGS., TS. Nguyễn Văn Dân, “Đời sống văn học Việt Nam năm 2007” của NCV. Phạm Quỳnh An, “Toàn cầu hoá văn hoá hay đa dạng văn hoá” của ThS. Bùi Thị Minh Phượng, “Tình trạng nghèo đói và thành tựu xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” của NCV. Lương Thị Thu Trang, “Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO: thành tựu và vấn đề” của NCV. Nguyễn Minh Hồng, “Điểm sự kiện về giải Nobel khoa học kinh tế những năm gần đây” của NCV. Trương Tuấn Anh.

Bên cạnh các bài viết tổng quan tình hình nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học như văn hoá học, sử học, khảo cổ học, kinh tế học, luật học, văn học, giáo dục, nghiên cứu con người,… Niên giám Thông tin Khoa học xã hội cũng dành một phần nội dung cho lĩnh vực thông tin - thư viện với các bài viết: 1) “Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu tại Viện KHXH Việt Nam trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu gần đây của OCLC” của ThS. Trần Mạnh Tuấn và Thư viện viên Nguyễn Thị Loan, Phòng Quản lý hoạt động thông tin và thư viện; 2) “Các sản phẩm thông tin thư mục của Thư viện Viện Thông tin KHXH” của NCVC. Đào Duy Tân; 3) “Thư viện điện tử trên thế giới và ở Việt Nam” của Thư viện viên Trần Thị Kiều Nga.

Hy vọng Niên giám Thông tin Khoa học xã hội số 3 sẽ tiếp tục là một loại hình thông tin bổ ích và có đóng góp nhất định cho công tác dự báo khoa học nói riêng và cho hoạt động thông tin khoa học nói chung.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

 

 

-Anh Duy-

 

Được tạo bởi maidien
Lần sửa cuối 12-09-2008 15:59
 
Giấy phép số 567/GP-BC do Bộ VH-TT cấp ngày 17/12/2004
Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS Hồ Sĩ Quý
26 Lý Thường Kiệt - Hà Nội. Điện thoại: 84.4.8253074