Thứ tư , ngày 07/01/2009
   Bạn đang ở: Trang chủ » TIN TỨC » Giới thiệu sách » Những vấn đề mũi nhọn trong nghiên cứu triết học đương đại

Những vấn đề mũi nhọn trong nghiên cứu triết học đương đại

Document Actions
Tháng 5 năm 2006, Tạp chí Trung Quốc Khoa học xã hội thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc (CASS) cùng Tạp chí Giới học thuật, một tạp chí có uy tín ở Trung Quốc đã tổ chức Hội thảo “Những vấn đề mũi nhọn trong nghiên cứu triết học đương đại”. Hội thảo đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của giới trí thức, đặc biệt là các nhà nghiên cứu và các nhà hoạt động xã hội. Mục đích của Hội thảo đặt ra là: Những vấn đề mà triết học Trung Quốc đương đại cần hướng tới - những vấn đề của thời đại, những vấn đề của đất nước Trung Quốc và những vấn đề của bản thân triết học. Hội thảo đã để lại dấu ấn khá đậm và sau đó vẫn tiếp tục gây tranh luận. Lựa chọn trong nhiều tham luận gửi tới Hội thảo, Tạp chí Trung Quốc Khoa học xã hội đã chọn 10 tham luận tiêu biểu của các học giả trên khắp đất nước để đăng tạp chí với tiêu đề chuyên mục giống như tiêu đề hội thảo. Được sự đồng ý của các tác giả và Tạp chí Trung Quốc Khoa học xã hội, cuốn sách “Những vấn đề mũi nhọn trong nghiên cứu triết học đương đại”, được Viện Thông tin Khoa học xã hội dịch và công bố, gồm 10 tham luận tiêu biểu đó.


Bài 1. Vấn đề của triết học và triết học hướng vào vấn đề của GS. Y Tuấn Khanh đề cập đến hai chiều cạnh của các vấn đề trong nghiên cứu triết học: sự xác lập các đối tượng và chủ đề nghiên cứu mới và bước ngoặt tự giác của các chuẩn thức triết học; phân tích tình hình nghiên cứu triết học Trung Quốc hiện nay từ hai mặt: xác định vùng vấn đề nghiên cứu triết học và xem xét sự chuyển đổi chuẩn thức nghiên cứu triết học; xác lập chuẩn thức triết học văn hoá thực sự quay trở về với thế giới đời sống.

Bài 2. Vấn đề triết học hậu triết học của GS. Tôn Chu Hưng định nghĩa “hậu triết học” hay “hậu siêu hình học” là một hợp thể nhị nguyên của “hậu tồn tại học” và “hậu thần học”. Chủ đề lớn thứ nhất của “hậu triết học” là phê phán triết học hay phê phán siêu hình học. Chủ đề lớn thứ hai của “hậu triết học” là đối thoại văn minh hay giao lưu văn hoá. Chủ đề thứ ba của “hậu triết học” là việc hoạch định tính có thể của cuộc sống tốt đẹp của loài người. Và theo tác giả, triển vọng của tư tưởng hậu triết học sẽ được quyết định bởi chỗ liệu nó có thể nhìn thẳng vào hai vấn đề nan giải lớn của tính hiện đại là tình trạng khó khăn công nghệ và sự hư vô giá trị hay không? Nói cách khác, trong hiện thực của thời đại không khống chế được văn hoá, liệu nó có thể hình thành một lực lượng điềm tĩnh, tiết chế, kiềm giữ, chắc chắn hay không?

Bài 3. Lại suy nghĩ về đạo đức Nho gia trong bối cảnh toàn cầu hoá của Giáo sư trường Đại học Thâm Quyến - Cảnh Hải Phong khẳng định, cùng với sự phát triển nhanh chóng và sự biến đổi to lớn của xã hội Trung Quốc, hoàn cảnh hiện thực của đạo đức Nho gia đã có sự thay đổi căn bản. Về bối cảnh tổng thể của tư tưởng và học thuật, từ hình thái văn hoá chủ lưu vốn có, Nho học đã thoắt chốc biến thành những mảnh vụn văn hoá vỡ nát, nổi trôi. Đạo đức Nho gia đã đánh mất sự hậu thuẫn hữu hiệu của luận chứng hợp lý. Mảnh đất mà đạo đức Nho gia truyền thống dựa vào để tồn tại đã trở nên ngày càng cằn cỗi, đến mức trống rỗng, ảnh hưởng hiện thực của nó vì vậy giảm sút đi rất nhiều. Toàn cầu hoá tuyệt nhiên không có nghĩa là sự mất đi, mà chỉ có thể là sự thay đổi của truyền thống. Trước khi đối mặt với những thách thức mới, đạo đức Nho gia cần làm cuộc thanh lý lịch sử. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ lỳ luận, quan niệm và cả khuôn khổ tự sự cơ bản để xem xét lại đạo đức Nho gia, đồng thời cần tiến hành phân tích và nghiên cứu tỉ mỉ hơn, sâu sắc hơn về phạm trù khái niệm, xu hướng vấn đề, di sản tư tưởng và tình cảnh lịch sử của nó.

Bài 4. Biên giới quyền con người trong các tìm kiếm mũi nhọn của đạo đức học đương đại của TS. Cam Thiệu Bình xem xét ba vấn đề căn bản: cộng đồng đạo đức kiểu chủ nghĩa khế ước, lý do trẻ em được bảo vệ quyền con người, bảo vệ động vật không phải là một loại hành vi đạo đức. Những luận giải, phân tích về ba vấn đề trên đều để chứng minh cho một quan điểm chung nhất: xác định chuẩn xác nội dung của khái niệm quyền con người, vạch ra một cách rõ nét các biên giới thích hợp cho các nguyên tắc quyền con người tự nhiên là một vấn đề quan trọng mà giới đạo đức học không thể không đối mặt khi nghiên cứu sâu lý luận quyền con người.

Xuất phát từ ý thức sinh tồn tự giác của người đương đại, Bài 5. Tuyên ngôn mỹ học về hài kịch của GS. Du Ngô Kim muốn đặt ra các vấn đề mỹ học từ một góc nhìn mới, đặc biệt là chỉ ra phương hướng mới của nghiên cứu mỹ học qua việc vạch ra một số chất men tư tưởng phổ biến, thực chất nào đó hàm chứa trong nghệ thuật hài kịch.

GS. Quách Quý Xuân đã đề cập đến đặc trưng ẩn dụ gốc của “ngữ cảnh” với tính cách là điểm cơ sở hay điểm sinh trưởng lý luận mới cho sự phát triển của triết học khoa học trong tương lai trong Bài 6. Chương trình nghiên cứu “ngữ cảnh” và sự phát triển của triết học khoa học. Từ đó, theo ông, khi xây dựng mặt bằng “ngữ cảnh” cho triết học khoa học đương đại, cần lưu tâm đến siêu lý luận về ngữ cảnh, phương pháp phân tích ngôn ngữ, sự ứng dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh và thực tại luận khoa học. Chỉ trên nền tảng ngữ cảnh, chúng ta mới có thể bắc nhịp cầu nối liền chủ nghĩa khoa học và chủ nghĩa nhân văn, mới có thể kết hợp hữu cơ triết học khoa học quy phạm và triết học khoa học miêu tả, mới có thể thoát ra khỏi thế lựa chọn lưỡng nan giữa triết học khoa học của những người theo chủ nghĩa biện hộ và triết học khoa học của những người theo chủ nghĩa phi duy lý và chủ nghĩa tương đối. Đó chính là ý nghĩa của chương trình nghiên cứu ngữ cảnh đối với sự phát triển của triết học khoa học.

Trong Bài 7. “Tầm nhìn vấn đề trong phản tư” của Marx và ý nghĩa đương đại của nó, GS. Nhiệm Bình nhận định, “tầm nhìn vấn đề trong phản tư” của Marx đã chuyển đổi căn bản vấn đề và vùng vấn đề, đã làm thay đổi căn bản tầm nhìn vấn đề và phương thức đặt vấn đề, cho rằng xuất phát điểm căn bản để “đặt vấn đề” là cải biến thực tiễn cảm tính của thế giới chứ không phải là giải thích lý luận. Về “tầm nhìn vấn đề trong phản tư”, chủ nghĩa Marx đương đại cần dốc sức trả lời năm vấn đề lớn mà toàn cầu hoá mới làm nổi bật lên. Một là, phản tư sâu sắc về ý nghĩa triết học của kinh tế tri thức đối với sự biến đổi phương thức sản xuất toàn cầu. Hai là vấn đề giao tiếp, trị lý liên chủ thể và trị lý công cộng do toàn cầu hoá mới đem lại. Ba là vấn đề viết lại tính hiện đại. Bốn là sự thách thức của thời đại toàn cầu hoá mới đối với cục diện toàn cầu. Và năm là thách thức của thời đại toàn cầu hoá mới đối với xung đột văn hoá đa nguyên. Tóm lại, phương thức chủ yếu để triết học macxit hiện diện trong thời đại ngày nay chính là khiến cho chủ nghĩa Marx trở thành “tầm nhìn vấn đề trong phản tư” của thời đại.

Bài viết của GS. Âu Dương Khang, Thực chất của vấn đề triết học và chuỗi vấn đề trong nghiên cứu triết học hiện nay xem xét chiều cạnh vấn đề của việc truy vấn tính hợp pháp của triết học, thực chất của vấn đề triết học và đặc điểm của phương thức tư duy triết học, cơ chế hình thành vấn đề triết học và tâm thái nhà triết học, và đặc biệt là chuỗi vấn đề trong nghiên cứu triết học hiện nay. Chuỗi vấn đề đó bao gồm: 1) Xung đột bên trong và tương tác giữa lý tính và phi lý tính trong kết cấu tâm lý sâu xa của con người; 2) Sự phân hoá, xung đột và tương tác toàn diện giữa văn hoá khoa học kỹ thuật và văn hoá nhân văn trong đời sống xã hội; 3) Sự phân hoá và đối lập giữa thế giới đời sống và thế giới thần thánh; 4) Xung đột và chế ước lẫn nhau giữa bản sắc dân tộc và hệ thống toàn cầu; 5) Sự đối lập và tương tác giữa tự do cá tính và các quy định pháp luật. Cơ sở căn bản nhất của chuỗi vấn đề triết học là nhân tính, không gian rộng rãi nhất của nó là xã hội loài người, thậm chí là thế giới.

Bài 9. Triết học hướng vào các vấn đề của Trung Quốc của GS. Phùng Bình biểu đạt một niềm tin: triết học Trung Quốc cần lấy việc cải thiện đời sống của người Trung Quốc, xúc tiến sự phát triển của xã hội Trung Quốc làm mục tiêu nghiên cứu, cần lấy quan niệm giá trị và phương thức tư duy căn bản nhất ảnh hưởng đến đời sống người Trung Quốc và sự phát triển xã hội Trung Quốc làm nhiệm vụ nghiên cứu. Triết học Trung Quốc lấy các vấn đề của Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu hy vọng có thể trở thành tinh hoa tinh thần của thời đại, trở thành một thứ tư duy giàu sức sống giúp người Trung Quốc hiện nay sống một cuộc sống tốt đẹp hơn, và trở thành “linh hồn sống của văn hoá” Trung Hoa.

Đặt vấn đề: phải chăng có các logic khác nhau trong các nền văn minh khác nhau, trong Bài 10. Vấn đề và tương lai của logic học, GS. Cúc Thực Nhi đã nêu ra hai định nghĩa về logic học (là lý luận luận chứng và là khoa học về các hình thức và quy luật của tư duy); phân tích những bước ngoặt nhận thức trong logic học (là sự thay thế một loại hình logic này bằng một loại hình logic khác để trở thành trung tâm chủ yếu của sự chú ý); tìm hiểu diễn biến của nền văn minh và tương lai của logic. Một kết luận được rút ra là: Phương pháp nghiên cứu cổ điển phương Tây không thể chứng minh tính hợp lý của bất kỳ nền văn minh nào (kể cả logic của nó), cũng như tính không hợp lý của nó. Do vậy, về mặt tính hợp lý, không có nền văn minh nào (kể cả logic của nó) là vượt trên tất cả, và chúng không thể bị cự tuyệt hay tiếp nhận một cách giản đơn. Đây gọi là nguyên tắc bình đẳng giữa các nền văn minh. Câu hỏi: liệu có thể tồn tại một thứ quy tắc luận chứng xuyên văn minh hay một thứ logic biện luận xuyên văn minh đích thức hay không; nếu câu trả lời là khẳng định thì chúng là gì? Sẽ là vấn đề nghiên cứu mà logic học phải đối mặt trong tương lai.

Mời bạn đọc xem thêm lời giới thiệu “Những vấn đề của triết học Trung Quốc đương đại” về nội dung cuốn sách ở những trang đầu tiên do PGS., TS. Hồ Sĩ Quý, Viện trưởng Viện Thông tin KHXH chấp bút với chủ tâm lưu ý bạn đọc những kiến giải, những quan điểm, những ý kiến… khác (hoặc ít nhiều khác) với những bàn luận triết học lâu nay tại Việt Nam.

Hy vọng, với cuốn sách này, Viện Thông tin KHXH sẽ tiếp tục đưa đến tay bạn đọc thêm một tài liệu tham khảo đối sánh bổ ích và lý thú.

Xin trân trọng giới thiệu!

 

 

-Anh Duy-

Được tạo bởi maidien
Lần sửa cuối 20-06-2008 21:40
 
Giấy phép số 567/GP-BC do Bộ VH-TT cấp ngày 17/12/2004
Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS Hồ Sĩ Quý
26 Lý Thường Kiệt - Hà Nội. Điện thoại: 84.4.8253074