Thứ bẩy , ngày 19/05/2012
   Bạn đang ở: Trang chủ » GIỚI THIỆU » Lịch sử phát triển » Các thời kỳ » Viện Thông tin KHXH 30 năm xây dựng và phát triển(*)

Viện Thông tin KHXH 30 năm xây dựng và phát triển(*)

Document Actions

       I. Quá trình thành lập, chức năng và nhiệm vụ của Viện

Viện Thông tin Khoa học xã hội trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 93/CP ngày 08/5/1975 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở thống nhất hai tổ chức đã có là Thư viện Khoa học xã hội và Ban Thông tin Khoa học xã hội; và được khẳng định lại tại Nghị định số 23/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ.

Viện có tên giao dịch quốc tế là Institute of Social Sciences Information.

Năm 2003, Viện trở thành hội viên chính thức của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội và tổ chức thư viện (International Federation of Library Association and Institutions: IFLA), với mã số thành viên VN - 1002.

Ngay từ ngày đầu thành lập, Viện Thông tin Khoa học xã hội đã được Đảng và Nhà nước giao cho chức năng “nghiên cứu, thông báo, cung cấp tin tức và tư liệu về khoa học xã hội cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng có trách nhiệm đối với công tác khoa học xã hội” (QĐ số 93/CP ngày 08/5/1975).

Gần một năm sau, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam tại Quyết định số 54/KHXH-QĐ ngày 24/3/1976 về tổ chức hệ thống thông tin tại Uỷ ban, quy định:

Viện Thông tin Khoa học xã hội là cơ quan khoa học phụ trách công tác thư viện, tư liệu và thông tin của Uỷ ban Khoa học xã hội”. Viện có nhiệm vụ:

1.        Bổ sung và thống nhất quản lý vốn sách báo tư liệu trong phạm vi Uỷ ban.

2.        Bổ sung và hoàn thiện hệ thống phiếu tra cứu sách báo tư liệu trong thư viện của Uỷ ban.

3.        Dịch và quản lý việc dịch tài liệu khoa học từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt trong phạm vi Uỷ ban, phối hợp với các cơ quan khác trong việc tổ chức dịch và sử dụng tài liệu dịch.

4.        Tổ chức việc cho mượn sách báo tư liệu.

5.        Thông báo kịp thời và chính xác những thành tựu mới, những vấn đề mới của các ngành khoa học xã hội trong và ngoài nước cho cán bộ và cơ quan có trách nhiệm về khoa học xã hội, trước mắt nhằm vào những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

6.        Cùng với thủ trưởng các Viện và Ban nghiên cứu khoa học xây dựng hệ thống thư viện, tư liệu và thông tin khoa học xã hội trong toàn Uỷ ban, chỉ đạo về nghiệp vụ đối với hệ thống đó.

7.        Nghiên cứu thông tin học, thư viện học và thư mục học nhằm cải tiến và hoàn thiện không ngừng các công tác đó.

8.        Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thông tin tư liệu, thư viện trong toàn Uỷ ban.

9.        Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công tác thông tin tư liệu, thư viện trong toàn Uỷ ban.

10.     Thực hiện việc hợp tác quốc tế về thông tin và thư viện khoa học xã hội trong phạm vi những hiệp định mà Uỷ ban Khoa học xã hội đã ký kết. (Điều 1, Quyết định số 54/KHXH - QĐ).

Trải qua 30 năm, những tư tưởng chiến lược ban đầu về Viện đã từng bước được thực hiện và cụ thể hoá cho phù hợp với sự phát triển của Viện và của đất nước. Tháng 4 năm 2005, theo Quyết định số 352/2005/QĐ-KHXH ngày 25 tháng 4 năm 2005 của Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chức năng của Viện một lần nữa được khẳng định là:

1.    Thông tin khoa học cho các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, các doanh nghiệp... về những vấn đề cơ bản và xu hướng phát triển của thế giới, khu vực và Việt Nam, về khoa học xã hội thế giới và Việt Nam.

2.    Bảo tồn, khai thác và phát huy di sản truyền thống Thư viện Khoa học xã hội. Xây dựng và phát triển Thư viện là Thư viện Quốc gia về Khoa học xã hội.

3.    Chủ trì, điều phối và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ thuộc lĩnh vực thông tin và thư viện trong toàn Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

4.    Đào tạo, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực thông tin  và thư viện khoa học xã hội.

Với tư cách là một cơ quan thông tin chuyên ngành về khoa học xã hội, Viện Thông tin Khoa học xã hội đã giải quyết nhiều mối quan hệ: giữa thông tin phục vụ lãnh đạo với thông tin phục vụ nghiên cứu khoa học, giữa thông tin khoa học cơ bản và thông tin mũi nhọn mang tính thời sự, giữa thông tin hồi cố và thông tin hiện đại, giữa thông tin nguồn tài liệu trong nước và thông tin nguồn tài liệu nước ngoài, giữa tỷ lệ nguồn tài liệu nhập vào Viện và tỷ lệ xử lý tài liệu cấp hai và nhiều mối quan hệ khác…

Năm 1978 Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo công tác thông tin khoa học xã hội, nêu rõ: thông tin khoa học xã hội phải có đầy đủ tính Đảng, phải có phương hướng chính trị - tư tưởng rõ ràng, đúng đắn. Theo tinh thần chỉ đạo này, Viện Thông tin Khoa học xã hội trong suốt những năm tháng hoạt động và phục vụ của mình luôn coi trọng việc thông tin khoa học xã hội và nhân văn theo hướng tăng cường và tập trung thông tin về “bốn cái mới”: luận điểm mới, thành tựu mới, phương hướng mới và phương pháp mới của các ngành khoa học xã hội và nhân văn.

II. Những thành tựu nghiên cứu - thông tin

§          Giai đoạn 1975-1985

1.         Xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của bất kỳ một cơ quan thông tin nào là xây dựng nguồn tài liệu khoa học, bao gồm cả việc vươn tới, bao quát, truy cập kịp thời nhiều nguồn tin khác, tổ chức khai thác và thực hiện các dịch vụ thông tin - thư viện.

Trong giai đoạn đầu thành lập, việc trao đổi được thực hiện chủ yếu với các cơ quan thông tin thư viện của các nước xã hội chủ nghĩa ngày đó, đặc biệt là Liên Xô. Do vậy, vốn tài liệu sách báo khoa học tiếng Nga chiếm một tỷ lệ khá cao trong nguồn tài liệu bổ sung (tính đến hết tháng 4/2004, kho sách tiếng Nga vẫn là kho có số lượng đầu sách lớn với nội dung phong phú và khá cập nhật).

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nguồn sách báo tư liệu khoa học xã hội nước ngoài nhập vào Viện trong nhiều năm còn thiếu liên tục, chưa thực sự có hệ thống, và thiếu hụt nghiêm trọng các tài liệu có giá trị của các nước phương Tây. Tình trạng này đã được chú ý và khắc phục một phần trong những năm gần đây.

2.         Xây dựng các hệ thống tra cứu thông tin -  thư viện

Trước năm 1973 Thư viện Khoa học xã hội sử dụng khung phân loại thập tiến rút gọn có bổ sung, gồm 17 lớp do Thư viện quốc gia Việt Nam biên soạn dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô. Đến năm 1973, Thư viện đã nghiên cứu để áp dụng khung phân loại thư mục - thư viện (BBK) của Liên Xô. Thư viện đã tổ chức dịch, biên tập và biên soạn lại các chương, mục cho phù hợp với tình hình và điều kiện phát triển cụ thể của các ngành khoa học xã hội nước ta. Năm 1978, đã hoàn thành về cơ bản việc biên soạn lại áp dụng ngay tại thư viện của Viện khung phân loại BBK. Việc phân loại tài liệu theo BBK là một bước tiến hết sức quan trọng trong việc xây dựng lại hệ thống tra cứu theo môn loại khoa học.

Từ năm 1976, Viện đã bắt đầu nghiên cứu và đưa vào áp dụng mô tả thư mục theo quy tắc ISBD (M) và ISBD (S) của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội và tổ chức thư viện (IFLA). ISBD đòi hỏi một sự linh hoạt nhất định, đưa ra mẫu mô tả đầy đủ tối đa nhưng đồng thời cũng dự kiến khả năng bỏ qua một số chi tiết không phải là cơ bản trong các bảng mục lục, bảng tra thư mục và bảng liệt kê sách báo.

Áp dụng mô tả thư mục theo ISBD là một bước đi lớn của Viện Thông tin Khoa học xã hội trong tiến trình vươn lên nắm bắt trình độ quốc tế.

3.         Sự hình thành các sản phẩm và dịch vụ thông tin

Ngay từ khi thành lập, Viện đã bắt tay ngay vào công việc tổ chức - xây dựng hệ thống các ấn phẩm thông tin khoa học xã hội. Đến nay, hệ thống ấn phẩm của Viện đã xác lập được vị trí đặc thù riêng trên thị trường tin trong nước, và trở nên quen thuộc với đông đảo người dùng tin từ Trung ương đến địa phương. Những năm tháng hoạt động của Viện cũng là thời gian Viện dò tìm, nghiên cứu, sáng tạo và định hình các hình thức xử lý thông tin làm chú giải, lược thuật, dịch thuật và tổng thuật. Trên những nền móng đó, Viện đã xây dựng các loại hình ấn phẩm thông tin cho nghiên cứu lý luận và quản lý triển khai nhiều chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, giáo dục… ở Trung ương và địa phương.

Ấn phẩm thông tin đầu tiên mang tên Viện Thông tin Khoa học xã hội là loại thông tin thư mục “Thông báo sách mới” (tháng 12/1975). Sau đó các thông tin thư mục được xuất bản hàng quý, theo từng bộ môn khoa học xã hội như triết học, xã hội học, kinh tế học, luật học, sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn học, ngôn ngữ học…Ngoài ra, Viện còn biên soạn thông tin thư mục bài trích các tạp chí trong và ngoài nước và cho xuất bản thành những tập riêng. Lý do chủ yếu để thông tin thư mục ra đời sớm, trước hết là vì loại hình thông tin này đã kế thừa những sản phẩm thư mục của Thư viện Khoa học xã hội, cũng còn vì theo quan niệm của Viện, thông tin thư mục phải đi trước một bước chuẩn bị cho các bước xử lý tiếp theo.

Trên cơ sở vốn tin được tổ chức và xây dựng trong những năm 1975-1977, từ năm 1977 - 1978 Viện đã xuất bản định kỳ các tập san thông tin chuyên ngành khoa học xã hội, bao gồm các bài dịch thuật, lược thuật các công trình nghiên cứu khoa học xã hội ở trong và ngoài nước là chủ yếu.

Một loại hình ấn phẩm thông tin khác - đó là các sưu tập thông tin chuyên đề. Cũng giống như các tập san thông tin chuyên ngành, các sưu tập thông tin chuyên đề gồm các bài dịch thuật, lược thuật, tổng thuật phân tích khoa học nhưng mang tính chọn lọc, định hướng rõ rệt, thường là về những vấn đề mà đông đảo giới dùng tin nước ta đang quan tâm, hoặc về những vấn đề có tính tổng kết các lĩnh vực khác nhau của đời sống khoa học và thực tiễn xã hội.

Năm 1978, Tập san Thông tin Khoa học xã hội được xuất bản theo giấy phép số 387/GPXB của Bộ Văn hóa. Một năm sau, Tập san được cấp giấy phép chuyển thành Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội vào năm 1979, là cơ quan ngôn luận của Viện Thông tin Khoa học xã hội có nhiệm vụ “nghiên cứu về mặt lý luận và phổ biến những thành tựu mới, luận điểm mới, phương hướng mới và phương pháp mới của các bộ môn khoa học xã hội ở Việt Nam và trên thế giới” (giấy phép số 378/GPXB). Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội đã nhanh chóng hoà vào dòng sách báo khoa học nước nhà và chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình cung cấp thông tin khoa học cho giới nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà quản lý của nước ta.

Trong các ấn phẩm của Viện Thông tin Khoa học xã hội, còn phải kể đến các loại tài liệu dịch. Đây là những tài liệu nước ngoài có giá trị khoa học, có tính cập nhật và thời sự. Ngay từ những năm đầu hoạt động, Viện đã chú ý đến loại hình dịch thuật. Cuốn sách đầu tiên mà Viện đã tuyển chọn, tổ chức dịch và xuất bản (năm 1978): “Có thể nuôi được 10 tỷ người không?” của J.Klatsmann. Rồi sau đó, một số tài liệu khác được xuất bản phục vụ cho công tác tư tưởng như “Hồi ký Vương Minh” (1979); “Ghi chép về Trung Quốc” (1979) và cuốn sách cuối cùng của giai đoạn đầu là cuốn “Các khoa học xã hội và thông tin” (1980).

4.         Nghiên cứu lý luận nghiệp vụ thông tin - thư viện

Thư viện Khoa học xã hội từ trước năm 1975 từng triển khai công tác nghiên cứu các vấn đề cơ bản của thư viện học, thư mục học, thư tịch học, một số vấn đề của thông tin học và được tiếp tục tăng cường sau ngày thành lập Viện nhằm tạo nền tảng xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên ngành thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Thư viện đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng các quy trình xử lý kỹ thuật tài liệu, quy trình lựa chọn và duyệt mua sách báo tư liệu khoa học, tổ chức kho và các chế độ phục vụ bạn đọc. Một vấn đề vô cùng quan trọng trong giai đoạn này là nghiên cứu những vấn đề lý luận và cấu trúc của khung phân loại BBK nhằm mục tiêu đưa khung phân loại BBK của Liên Xô áp dụng vào công tác phân loại các tài liệu của Thư viện. Ngoài ra, Thư viện còn tổ chức nghiên cứu các loại hình thư mục nhằm mục đích biên soạn các loại thư mục phục vụ nhu cầu tra cứu tin đa dạng của nhiều đối tượng dùng tin khác nhau.

Nhiều vấn đề lý luận, phương pháp luận, phương pháp của các khoa học thông tin, thư viện đã được triển khai nghiên cứu. Trước hết, Viện tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ mô hình tổ chức thông tin khoa học xã hội, trong đó có vấn đề thống nhất thư viện và thông tin. Những vấn đề nghiên cứu tiếp theo là xác định rõ vai trò, vị trí của thông tin khoa học xã hội trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội, giảng dạy và truyền bá khoa học xã hội, nâng cao dân trí và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

Viện Thông tin Khoa học xã hội là một cơ quan thông tin chuyên ngành về khoa học xã hội, cho nên việc nghiên cứu những đặc thù của thông tin khoa học xã hội cũng được đặt thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Khi đã xác định rõ những đặc điểm của thông tin khoa học xã hội, sẽ xác định được các phương pháp xử lý thông tin và triển khai các dịch vụ thông tin khoa học xã hội, góp phần phục vụ đúng các nhu cầu thông tin đa dạng của nhiều đối tượng người dùng tin.

Một vấn đề không kém phần quan trọng khác đã được nghiên cứu và đưa vào áp dụng ngay trong những năm đầu thành lập Viện là các quá trình hoạt động thông tin và mối liên hệ giữa chúng. Vào thời điểm này, vấn đề cấp bách đặt ra là phải nhanh chóng nghiên cứu nhằm đưa ra được các phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin khoa học xã hội để hướng dẫn cho đội ngũ cộng tác viên khoa học. Xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin là một quá trình của hoạt động thông tin khoa học có nhiệm vụ cơ bản là hệ thống hoá các dòng tài liệu nhận được và chế biến tin trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tài liệu và khái quát nội dung của chúng để đưa ra những thông tin mới. Xử lý thông tin bao gồm các hoạt động như làm chú giải, định từ khoá, làm lược thuật và viết tổng thuật.

Viện đã cho dịch và biên soạn tài liệu hướng dẫn làm chú giải tài liệu, cũng đã áp dụng vào việc biên soạn thư mục có chú giải, giới thiệu tài liệu trên tạp chí và các ấn phẩm thông tin khác của Viện. Hình thức xử lý thông tin chủ yếu của Viện là làm lược thuật các tài liệu khoa học (chiếm khoảng 70 - 80% số lượng tài liệu được xử lý). Do vậy, Viện đã tiến hành nghiên cứu các phương pháp làm lược thuật công bố trong các ấn phẩm thông tin của Viện, theo một nghĩa nhất định, giúp người tìm tin nắm bắt được một cách bao quát nội dung chính của tài liệu gốc (tài liệu cấp một). Những nghiên cứu trên đây đã được áp dụng trong thực tiễn hoạt động xử lý tin của Viện trong suốt thời gian qua.

Trong 10 năm đầu, Viện đã bám sát thực tiễn xã hội, đời sống khoa học của đất nước, nghiên cứu đưa ra các loại hình ấn phẩm thông tin khoa học xã hội được người dùng tin chấp nhận.

Công tác phổ biến tin được bắt đầu triển khai từ năm 1977 khi hàng loạt ấn phẩm thông tin khoa học của Viện ra đời. Khi đó các ấn phẩm thông tin được phục vụ miễn phí đến các cơ quan của Đảng và Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học trong phạm vi cả nước.

§          Giai đoạn từ năm 1986 đến nay

Sau 10 năm xây dựng và trưởng thành, Viện Thông tin Khoa học xã hội bước sang một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn Đổi mới dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng. Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng hoạch định đã ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, và đặc biệt đến hoạt động thông tin - thư viện của Viện.

1.          Xây dựng nguồn lực khoa học

Là một cơ quan thông tin chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn, Viện Thông tin Khoa học xã hội đã tiếp nhận được từ sự nghiệp đổi mới một sự khởi sắc to lớn trong lĩnh vực xây dựng nguồn vốn tài liệu khoa học phong phú và có chất lượng khoa học cao. Không chỉ các loại hình sách, báo, tạp chí, microfilm, mà nhiều cơ sở dữ liệu rất phong phú trên CD -ROM…, nhiều bộ từ điển song ngữ quý hiếm, từ điển đối chiếu, từ điển giải nghĩa, nhiều bộ Đại bách khoa toàn thư, cùng với hàng chục bộ bách khoa thư chuyên ngành rất quý, mới được xuất bản trong những năm gần đây tại nhiều nước trên thế giới… được bổ sung về Viện để phục vụ yêu cầu của độc giả.

2.         Hệ thống ấn phẩm và dịch vụ thông tin

·           Thông tin thư mục

Từ năm 1986 đến năm 2004, Viện đã cho xuất bản trên 50 bộ thư mục các loại. Trước hết, Viện ưu tiên biên soạn và xuất bản các Thư mục thông báo sách mới nhập về Viện và về các Viện trong toàn Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam). Loại thư mục này, vào thời kỳ đầu mỗi năm ra một số và đến năm 1993 mỗi năm ra hai số. Từ năm 1998 trở lại đây, Thư mục thông báo sách mới nhập về các Viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, ra đều đặn hàng tháng, do Viện Thông tin Khoa học xã hội chủ trì phối hợp và xuất bản (tính đến tháng 4/2005 đã ra được 86 số với trên 45.000 đầu sách mới nhập về trong toàn Viện Khoa học xã hội Việt Nam). Đây là một bước tiến mới về mặt nghiệp vụ.

Trước năm 1987, Viện còn biên soạn và xuất bản thư mục về các bộ môn khoa học xã hội như Triết học, Xã hội học, Kinh tế học, Luật học, Văn học, Ngôn ngữ học, Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học... Do những khó khăn chủ quan và khách quan cho nên các loại thư mục trên đã không được tiếp tục mà chuyển sang biên soạn thư mục chuyên đề, thư mục nhân vật, thư mục địa chí... Kế tiếp các tập thư mục rất có giá trị khoa học ở giai đoạn trước như “Thư mục Hồ Chí Minh” (1970), “Thư mục Nguyễn Trãi” (1980), trong đó có chú giải nội dung, có các loại bảng tra, nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện đã biên soạn và xuất bản “Tổng mục lục các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh của các tác giả trong nước và ngoài nước có tàng trữ tại các thư viện lớn ở Việt Nam (4 thứ tiếng Việt, Nga, Anh, Pháp)” (1990), và các bộ thư mục được biên soạn khá công phu như: “Hương ước Việt Nam - thời kỳ cận đại” (1991), “Hương ước Việt Nam - Văn bản Hán - Nôm” (1994), Thư mục “Thần tích thần sắc” (1996). Các thư mục hương ước và thần tích thần sắc trên đây phản ánh toàn bộ các tư liệu Hương ước và Thần tích thần sắc hiện đang được bảo quản, lưu trữ trong kho sách của Viện. Ngoài ra, Viện còn xuất bản các thư mục tổng hợp như “Tổng mục lục các công trình khoa học xã hội dưới dạng sách 1953 - 1992” (1993); “Mục lục liên hợp - tài liệu tiếng Việt về khoa học xã hội và nhân văn. T1” (1994); “Thư mục Văn hoá làng xã Việt Nam. Truyền thống và phát triển” (1996); “Thư mục Phan Châu Trinh” (1998), “Thư mục Việt Nam học” (1999); “Thư mục ngàn năm Thăng Long - Hà Nội” (2000);  Tổng mục lục Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội: 1978- 1998” (2000)...

·           Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội

Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội được cấp giấy phép xuất bản từ năm 1978. Lúc đầu Tạp chí phát hành 12 số/ năm. Từ năm 1986 đến đầu những năm 1990 do gặp nhiều khó khăn về kinh phí, Tạp chí phát hành rút xuống còn 6 số/ năm, và từ 100 trang in rút xuống còn 84 trang. Đến giữa năm 1994 do nhu cầu thông tin, Tạp chí trở lại ra hàng tháng, trung bình mỗi số 1500 bản, mỗi bản 64 trang (in lazer, hình thức đẹp, trang trọng). Tính đến hết tháng 4 năm 2005 Tạp chí đã ra được 268 số và một Tổng mục lục 20 năm Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội (1978-1998).

Tạp chí thực hiện đúng tôn chỉ mục đích báo chí, bám sát tình hình thực tế đời sống khoa học xã hội và nhân văn trong và ngoài nước. Các bài công bố trên Tạp chí gồm chủ yếu là các bài nghiên cứu, tổng thuật, lược thuật và một số ít là dịch thuật.

Về nội dung, Tạp chí đã tuyển chọn, xử lý và cung cấp những thông tin mới phục vụ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo, về khoa học - công nghệ, về văn hoá, về tôn giáo và dân tộc, về những kinh nghiệm cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế, về các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn...

Ngoài những vấn đề trên, Tạp chí còn đăng tin, bài trong các mục “Chân dung các nhà khoa học xã hội và nhân văn”, “Diễn đàn thông tin khoa học xã hội”, “Đời sống - Tư liệu khoa học”, “Giới thiệu sách nhập về Thư viện Viện Thông tin KHXH”. Từ đầu năm 2000, Tạp chí mở thêm chuyên mục “Giới thiệu luận án tiến sĩ KHXH&NV”.

Cùng với quá trình trưởng thành của Viện, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội trong suốt thời gian qua đã không ngừng phấn đấu, tự khẳng định vai trò là cơ quan ngôn luận của Viện và của giới khoa học xã hội Việt Nam, là cầu nối giữa bạn đọc, người dung tin và Viện Thông tin Khoa học xã hội. Tạp chí có mối quan hệ trao đổi với nhiều tạp chí khoa học trong cả nước.

·           Tập san thông tin chuyên ngành

Trong giai đoạn từ năm 1977 - 1982, Tập san Thông tin Khoa học xã hội chuyên ngành ra đời (đến năm 1983 các loại tập san trên đình bản do khó khăn về kinh phí và giấy in). Đến năm 1990, Tập san Thông tin Khoa học xã hội chuyên ngành được xuất bản trở lại dưới tên gọi Cái mới trong khoa học xã hội. Tính đến giữa năm 1994, Viện đã cho xuất bản số thứ 40 “Cái mới trong khoa học xã hội”, số lượng in ra bình quân 300 - 500 bản/số. Một điều đáng chú ý ở loại hình ấn phẩm này là công bố nhiều vấn đề của các khoa học liên ngành. Từ ngày thành lập Viện cho đến nay đã có trên 65 số tập san được phát hành, đưa đến cho bạn đọc những thông tin mới bổ ích về tình hình nghiên cứu, triển khai những vấn đề khoa học, về những cái mới trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Tập san Thông tin Khoa học xã hội chuyên ngành “Cái mới trong khoa học xã hội” tồn tại đến năm 1994 và chuyển sang loại hình ấn phẩm thông tin khác.

Sưu tập chuyên đề là một trong các loại hình ấn phẩm thông tin khoa học xã hội gồm các bài lược thuật, dịch thuật, tổng thuật phân tích khoa học về một vấn đề lý luận hay thực tiễn đang được người dùng tin quan tâm nghiên cứu. Loại hình ấn phẩm này ra đời đã góp phần cung cấp các thông tin phục vụ giới nghiên cứu và giảng dạy khoa học xã hội ở nước ta, nhất là từ khi các tập san thông tin chuyên ngành không có điều kiện xuất bản. Hàng chục sưu tập chuyên đề đã được tổ chức biên soạn và phục vụ bạn đọc trong cả nước về nhiều diện đề tài, trong đó không ít sưu tập mang tính định hướng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học như: “§ào tạo cán bộ quản lý” (1987), “Phong cách quản lý của người lãnh đạo” (1987), “Quá trình công nghiệp hoá ở một số nước trên thế giới” (1988), “Tâm lý xã hội và đời sống xã hội” (1988), “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên thế giới” (1990), “Về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” (1990), “Văn hoá và tính cách người Mỹ (1991), “Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân” (1991), “Những cuộc tranh luận về chủ nghĩa xã hội” (1991), “Khoa học - văn hoá - phát triển” (1993)...

Từ giữa những năm 1994 đến nay, thông tin chuyên đề khoa học xã hội được xuất bản định kỳ thay cho cái mới trong khoa học xã hội, mỗi năm 12 số (theo giấy phép xuất bản số 1708/BC ngày 27/6/1994 của Bộ Văn hoá Thông tin), gồm các bài nghiên cứu và thông tin về các thành tựu và kết quả nghiên cứu, thông tin dự báo về sự phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, về văn hoá và phát triển... Có thể nêu ra hàng loạt số thông tin chuyên đề đã được người sử dụng rất quan tâm như “Xung quanh sự đụng độ giữa các nền văn minh” (1995), “Kinh nghiệm phát triển Đông Á” (1995), “Quyền con người trong thế giới hiện đại” (1995), “Triết học Đông - Tây” (1996), “Các chiều trong không gian thông tin” (1996), “Cải cách sử học” (1996), “Kinh tế các nước trong khu vực” (1996); “Tôn giáo và đời sống hiện đại” (T.1-5 từ 1997 - 2001), “Sử học trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” (1997); “Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á - những vấn đề đặt ra hiện nay” (1998), “Sự đột phá của khoa học thông tin trước thế kỷ XXI” (1998), “Truyền thống và hiện đại trong văn hoá” (1999), “Nông nghiệp, an ninh lương thực với vấn đề tăng trưởng” (1999), “Sử gia và thời đại” (1999), “Văn học Mỹ Latinh” (1999), “Toàn cầu hoá và khu vực hoá - cơ hội và thách thức” (2000), “Tri thức, thông tin và phát triển” (2000), “Văn hoá học và văn hoá thế kỷ XX” (T1 - T2, 2000), “Chuẩn hoá và phong cách ngôn ngữ” (2000), “Sử học Trung Quốc trước gạch nối hai thế kỷ” (2000), “Sáng tác của Dostoevski - những cách tiếp cận từ nhiều phía” (2000), “Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh. Phân tích và dự báo” (T1-T2, 2001), “Nghiên cứu các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong những năm 90” (2002), “Những thách thức của sự phát triển trong xã hội thông tin” (2002), “Puskin trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” (2002), “100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷ XX” (2002), “Một chủ nghĩa tư bản mới hay những diện mạo mới của chủ nghĩa tư bản” (2002), “Ngôn ngữ-văn hoá-giao tiếp” (2002).

Đến năm 2003, do các điều kiện xuất bản có thay đổi, Viện Thông tin Khoa học xã hội không còn tự xuất bản các sưu tập chuyên đề nữa mà chuyển sang liên kết với Nhà xuất bản Khoa học xã hội để xuất bản loại ấn phẩm này dưới dạng sách. Một lần nữa loại hình ấn phẩm thông tin tham khảo này lại trải qua một bước đổi mới về hình thức. Từ đây, phụ san chuyên đề của Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội chấm dứt tồn tại để nhường chỗ cho loại hình “sách sưu tập chuyên đề”. Với hình thức xuất bản mới này, Viện đã cho ra mắt được một số ấn phẩm như: “Khủng bố và chống khủng bố với vấn đề an ninh quốc tế” (2003), “Chủ nghĩa tư bản hiện đại Hoa Kỳ đầu thế kỷ XXI” (2003), “Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay” (2003), “Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học - 30 năm thông tin các khoa học ngữ văn” (2003), “Chủ nghĩa khủng bố toàn cầu: vấn đề và cách tiếp cận” (2004) ... Nhìn lại chặng đường tiến hoá của tập san thông tin chuyên ngành và sưu tập chuyên đề, chúng ta có thể thấy thông tin khoa học xã hội đang phát triển theo chiều sâu.

Các ấn phẩm thông tin khoa học chuyên đề đã cung cấp kịp thời các thông tin bổ ích cho người dùng tin và được đông đảo người dùng tin trong cả nước hoan nghênh đón nhận. Các ấn phẩm thông tin chuyên đề đã khắc phục phần nào sự thiếu hụt thông tin và góp phần giúp bạn đọc tiếp cận nhanh với những thành tựu khoa học xã hội của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Cùng với các sưu tập chuyên đề, các số thông tin chuyên đề khoa học xã hội đã đứng vững trong hệ thống ấn phẩm thông tin của Viện Thông tin Khoa học xã hội và chiếm một vị trí quan trọng trên thị trường thông tin khoa học ở nước ta hiện nay.

·           Bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu (Tin nhanh - TN&TĐB)

Đây là loại hình tài liệu dịch toàn văn các bài viết mới được công bố trên sách, báo và (chủ yếu là) tạp chí nước ngoài về những vấn đề khoa học lý luận – khoa học xã hội và nhân văn đang được giới dùng tin nước ta quan tâm. Bản tin loại này được xuất bản lần đầu tiên vào tháng 9/1990. Tin nhanh thể hiện tính đặc thù và độc đáo của thông tin khoa học xã hội ở nước ta, phục vụ kịp thời cho nghiên cứu khoa học xã hội và hoạch định chính sách trong quá trình đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tin nhanh đã nhanh chóng trở thành bản tin mũi nhọn của Viện và góp phần đáp ứng một nhu cầu thông tin rất lớn ở nước ta hiện nay.

Ban biên tập tin nhanh đã không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung thông tin và rà soát lại đối tượng người dùng tin thường xuyên. Tính ưu việt của tin nhanh này là xử lý nhanh, dịch, biên tập với chất lượng tốt, nội dung thông tin phong phú và khá tập trung về nhiều lĩnh vực đang được quan tâm. (Cũng do vậy, một số cơ quan của Đảng đã tái sử dụng các tài liệu của Tin nhanh cho các ấn phẩm của mình).

Từ tháng 6/1993, Viện phát hành thêm Tài liệu phục vụ nghiên cứu, là loại tài liệu phục vụ theo một số địa chỉ xác định - Tin tham khảo đặc biệt (TĐB), với số lượng không nhiều (25 - 30 số mỗi năm). Đây cũng là những bản dịch toàn văn các bài nghiên cứu được công bố trên sách báo nước ngoài về những vấn đề lý luận, chính trị - xã hội, về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa tư bản hiện đại, về những vấn đề dân tộc và xung đột dân tộc, về kinh tế học v.v... được cung cấp đến địa chỉ người dùng tin là các cán bộ lãnh đạo từ Trung ương đến các tỉnh thành trong cả nước. Đây là loại hình tài liệu dịch thông tin nhiều chiều trong khoa học xã hội và nhân văn. Trung bình mỗi năm, Viện cung cấp cho người dùng tin 145 số bản tin góp phần bảo đảm thông tin đa dạng, khắc phục tình trạng thiếu hụt thông tin, góp phần phục vụ nghiên cứu khoa học, hoạt động lý luận và sự chỉ đạo quản lý của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp từ Trung ương đến các địa phương trong tình hình mới.

Tin nhanh Tin tham khảo đặc biệt không chỉ coi trọng chất lượng khoa học của các tài liệu gốc mà cả chất lượng dịch thuật, hiệu đính, biên tập và in ấn. Đây là những bản dịch toàn văn, được xử lý kịp thời, nên nhận được sự quan tâm và đón nhận nhiệt tình của người dùng tin là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đông đảo giới nghiên cứu và hoạt động quản lý, chỉ đạo thực tiễn tại các cơ sở và địa phương trong cả nước.

Trong những năm 1980, do những khó khăn về kinh tế, tài chính, giấy, mực in nên nhiều công trình dịch thuật không có điều kiện xuất bản. Sau đó do sự thúc bách của nhu cầu xã hội, Viện dần dần phục hồi lại và xuất bản hàng loạt công trình có giá trị khoa học cao thuộc nhiều lĩnh vực như: về chủ nghĩa xã hội, về tư tưởng Mác - Lênin, về vấn đề dân tộc, về kinh tế học, về chính trị học v.v...

Nhiều công trình dịch thuật được giới khoa học đánh giá cao về mặt chất lượng phục vụ nghiên cứu, lãnh đạo và quản lý của các cấp, các ngành như: “Chủ nghĩa xã hội và tin học” của N.N. Moissev (1989); “Cẩm nang tài khoản khách hàng” (1993), “Cẩm nang tín dụng” (1994), “Cẩm nang thanh toán quốc tế” (1996), “Nhỏ là đẹp” của E.F. Schumacher (1994); “Chủ nghĩa Tam dân” của Tôn Trung Sơn (1995), “Marx - nhà tư tưởng của cái có thể” của Michel Vadée (1996), “Chiến tranh và chống chiến tranh” của A. Toffler và H. Toffler (1998)... Có những cuốn thuộc diện tham khảo hẹp như “Thất bại lớn. Sự ra đời và cái chết của chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX” của Zbigniew Brzezinski (1992), “§ế chế tan vỡ. Cuộc nổi dậy của các dân tộc ở Liên Xô” của Hélène Carrere d’Encausse (1993).

Các loại hình ấn phẩm thông tin của Viện Thông tin Khoa học xã hội được xây dựng trong hơn một phần tư thế kỷ qua là phương thức chuyền tải thông tin theo các cấp độ phục vụ những nhu cầu của thực tiễn xã hội đang đặt ra. Điều  này có thể cắt nghĩa được sự nỗ lực của hoạt động thông tin khoa học xã hội trong tình hình mới và vì sao thông tin khoa học xã hội đứng vững được trên vị trí của mình và không ngừng cải tiến, phát triển. Việc sử dụng ngày càng rộng rãi tri thức khoa học, công nghệ mới, kinh nghiệm tổ chức... trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã dẫn đến chỗ sử dụng thông tin không còn là đặc quyền của một số tầng lớp nhất định, mà nó trở thành tài sản của mọi người lao động, trở thành tài sản quốc gia và trở thành tài sản vô giá của nhân loại.

Từ năm 1986 đến nay, Viện đã xây dựng và tổ chức các kênh thông tin từ Trung ương xuống các địa phương trong cả nước, đã nghiên cứu và phân loại đối tượng người dùng tin và tương ứng với từng đối tượng đó là các loại hình ấn phẩm thông tin và hình thức xử lý tài liệu cho phù hợp. Người dùng tin - đối tượng phục vụ, nhu cầu tin của họ là yếu tố quyết định và định hướng hoạt động của Viện.

Cho đến nay, lý luận và thực hành thông tin thường được nhìn nhận và đánh giá trên quan điểm ảnh hưởng của thông tin tới việc giải quyết những vấn đề khoa học, tới những quá trình khác nhau diễn ra trong khoa học. Còn vấn đề cá nhân nhà khoa học trong việc tạo ra thông tin và đồng thời cũng dùng tin thì chưa được nhìn nhận và nghiên cứu một cách thoả đáng với tính cách một người dùng tin. Vì vậy việc tìm ra quy luật, các nguyên tắc và điều kiện tác động qua lại của thông tin với người dùng tin nhằm nâng cao tính sáng tạo và đạt tới hiệu quả cao nhất trong thực tiễn sử dụng thông tin là một việc làm cần thiết và thường xuyên.

Từ năm 1984 đến 1990 số lượng ấn phẩm thông tin của Viện xuất bản không nhiều. Thực sự công tác phổ biến tin phát triển mạnh và có hiệu quả cao nhất vào những năm 90. Viện  đã chuyển tải thông tin của mình tới 800 cơ sở dùng tin từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố, nhà trường, viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất kinh doanh... trong cả nước; chuyển tới tay người dùng tin nhiều trăm nghìn ấn phẩm thông tin của Viện. Khi bản tin “Tài liệu phục vụ nghiên cứu” (Tin nhanh – TN) ra đời, chỉ tính riêng sáu tháng cuối năm 1990 đã có 40 tài liệu với số lượng in 300 bản về các vấn đề: sự tiến hoá của chủ nghĩa xã hội, về sở hữu, về nhà nước, về con người mới, về kinh tế, văn hoá... đã được phát hành và cung cấp cho 200 địa chỉ. Người dùng tin là các cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học... Các năm 1992-1994, Viện đã cung cấp, phổ biến trên 118.000 đơn vị ấn phẩm các loại, đưa đến cho người dùng tin nhiều tư liệu có giá trị tham khảo, gợi ý nhiều mặt trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu và phát triển.

Cuối năm 1990 người dùng tin còn được tiếp nhận một loại hình ấn phẩm thông tin mới cải tiến trên cơ sở Tập san Thông tin chuyên ngành “Cái mới trong khoa học xã hội”. Loại ấn phẩm thông tin này phục vụ chủ yếu đối tượng dùng tin chuyên ngành, nhằm cung cấp những thông tin mới trong các lĩnh vực khoa học cơ bản.

Trong những năm 1991, 1992, 1993 và những năm tiếp theo có thể nói hoạt động thông tin khoa học xã hội của Viện đã đạt được những thành quả đáng khích lệ so với những năm trước đó. Hiệu quả thông tin được khẳng định bằng sự tin cậy của người dùng tin thể hiện qua các đơn đặt hàng thường xuyên, ổn định và đặc biệt Viện nhận được những nhận xét quý báu và rất tốt của người sử dụng các ấn phẩm thông tin.

Từ năm 1996 đến năm 2004, Viện đã chuyển tới người dùng tin trên 70 tên sách tham khảo nội bộ, các sưu tập chuyên đề, các số Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, gần 1000 số bản tin Tài liệu phục vụ nghiên cứu (cả Tin nhanh và Tin đặc biệt). Các loại hình ấn phẩm thông tin của Viện ngày càng phong phú và đa dạng. Đây là công sức đóng góp của tập thể cán bộ, công chức của Viện làm việc ở nhiều bộ phận khác nhau trong dây chuyền nghiên cứu, xử lý, quản lý, sản xuất, chế bản, in ấn... trong đó có sự đóng góp tích cực và có hiệu quả của công tác nắm bắt nhu cầu tin, tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến tin.

Riêng trong năm 2000, Viện đã phục vụ gần 4000 lượt người dùng tin trong cả nước, với 57.149 đơn vị tài liệu. Có 10.899 đơn vị tài liệu được biếu trực tiếp đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành Trung ương và các địa phương, ngoài ra còn có 46.520 đơn vị tài liệu được bán trực tiếp cho người dùng tin.

Hoạt động trong quỹ đạo của thị trường sách báo sôi động trong những thập niên gần đây, Viện đã coi trọng công tác tuyên truyền giới thiệu các ấn phẩm thông tin được sản xuất. Mặc dù kinh phí còn hạn hẹp, hàng năm Viện phát kênh giới thiệu sản phẩm của mình đến gần 10.000 đơn vị người dùng tin trong cả nước. Do tiếp cận được thị trường và đặc biệt nắm bắt được nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin, cho nên nhiều ấn phẩm số lượng in ra đã không đủ để đáp ứng yêu cầu của người dùng tin và được tái bản. Chẳng hạn năm 1997 là năm Viện vượt mức kế hoạch về xuất bản và phục vụ tin về tài liệu thông tin khoa học xã hội cho đông đảo người dùng tin trong cả nước, góp phần khẳng định vị trí khoa học xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, cho đến nay các sản phẩm thông tin của Viện Thông tin Khoa học xã hội chưa thoát khỏi khuôn mẫu truyền thống, công tác nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu tin, tuyên truyền, phổ biến tin cũng chưa có sự đầu tư tương xứng. Để có thể tiếp tục trụ vững và phát huy tốt vị thế của Viện trong hoàn cảnh mới, cần có sự đầu tư thích đáng cho mảng công việc này. Cùng với việc coi trọng nội dung khoa học cần thông tin, còn phải đa dạng hoá các sản phẩm làm ra, các loại hình dịch vụ, cũng cần có sự quan tâm thích đáng đến công tác tuyên truyền, phổ biến tin đến các cơ sở dùng tin trong cả nước.

3.         Nghiên cứu và thông tin

Công tác thông tin khoa học xã hội luôn gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học và có mối quan hệ khăng khít giữa quá trình thông tin và quá trình nghiên cứu. Thực tiễn hoạt động thông tin cho thấy từ mối quan hệ đó Viện tìm ra các phương pháp cung cấp thông tin tối ưu, nâng cao hiệu suất khoa học, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống tổ chức và chỉ đạo các công trình nghiên cứu và dự báo phát triển của khoa học, công việc xử lý, phân tích, tổng hợp một cách sáng tạo thông tin khoa học cũng chính là một quá trình nghiên cứu.

Hoạt động nghiên cứu khoa học để giải quyết những vấn đề thông tin khoa học trước hết nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng nội dung thông tin, nắm vững những vấn đề khoa học được thông tin, phục vụ nhiệm vụ phát triển khoa học xã hội và nhân văn, các chương trình kinh tế – xã hội, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nói đến nghiên cứu không thể không đề cập đến các nghiên cứu lý luận nghiệp vụ của các khoa học thông tin – thư viện và công nghệ tin học. Các đề tài nghiên cứu và thông tin là một trong số các hoạt động khoa học chủ yếu của Viện. Hàng trăm đề tài khoa học cấp Viện được nghiên cứu và triển khai mà kết quả đã được công bố qua hệ thống các ấn phẩm ít nhiều đã được nhắc đến ở trên. Từ góc độ nghiên cứu để thông tin, nhiều vấn đề cấp thiết mà đời sống xã hội và học thuật đặt ra đã được chọn lọc, xử lý, tổng quan trong các ấn phẩm của Viện như các xu hướng phát triển của thế giới ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các vấn đề tộc người và xung đột tộc người, sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với khu vực Đông Nam á sau chiến tranh lạnh, văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường, vấn đề tôn giáo, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, sử học trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, v.v...

Các đề tài khoa học và nhiệm vụ chuyên môn cấp Viện được tổ chức thực hiện ở các phòng chuyên môn theo phương thức vừa phục vụ công tác nghiên cứu cơ bản vừa đáp ứng nhu cầu tin về những vấn đề bức xúc của đời sống học thuật và của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội. Các đề tài và nhiệm vụ khoa học cấp Viện do các phòng xác định, đăng ký được Hội đồng Khoa học của Viện tham gia ý kiến tư vấn và đề xuất lựa chọn ưu tiên thực hiện. Cán bộ của các phòng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo tổ chức thực hiện với sự hợp tác của đội ngũ cộng tác viên khoa học. Nhờ vậy, nhiều đề tài khoa học đã hoàn thành kịp thời và với chất lượng cao.

Từ năm 1991 đến nay, Viện chủ trì và thực hiện 16 đề tài và nhiệm vụ cấp Bộ và tham gia nghiên cứu trong nhiều Chương trình, Đề tài cấp Nhà nước. Việc thực hiện các đề tài khoa học khẳng định thêm vai trò và vị trí của thông tin khoa học trong đời sống khoa học và đời sống tinh thần xã hội, khẳng định khả năng và năng lực tương đối cao của đội ngũ cán bộ của Viện.

III. Về xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật

Một trong những khó khăn trầm trọng và kéo dài đã nhiều năm là tình trạng các kho bảo quản sách báo chật chội tới mức không thể cho phép hoạt động và hầu như thiếu các trang thiết bị bảo quản. Như đã nói ở phần trên, sau hơn 100 năm duy trì và phát triển (tính từ khi Thư viện còn thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ), vốn sách báo của Viện đã tăng thêm gấp nhiều lần. Trong khi đó, diện tích các kho bảo quản trên thực tế lại vẫn như cũ. Do vậy dẫn đến tình hình là từ nhiều năm nay sách báo khoa học nhập về không tránh khỏi bị hư hỏng, rách nát. Nhưng sự phát triển Khoa học xã hội đòi hỏi không thể ngừng (làm đứt đoạn) dòng sách báo tư liệu nhập về Viện dù chỉ là một vài ngày. Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã có chủ trương khắc phục tình trạng này; trong giai đoạn tới những khó khăn này sẽ được tháo gỡ và giải quyết.

Cần phải nói rằng ý tưởng về tin học hoá, hiện đại hoá hoạt động thông tin thư viện đã sớm đến với Viện Thông tin Khoa học xã hội ngay từ lớp cán bộ lãnh đạo đầu tiên. Viện đã gửi nhiều cán bộ đi thực tập bồi dưỡng nghiệp vụ tự động hoá ở Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc ... Năm 1987, Viện đã trang bị một số thiết bị tự động hoá cần thiết cho phép tìm tin thử nghiệm theo kênh liên lạc đường dài Hà Nội-Mátxcơva. Tuy còn mang tính chất thử nghiệm nhưng cũng đáp ứng được một số yêu cầu về thông tin thư mục. Rất tiếc do hoàn cảnh lịch sử và một số khó khăn khác nữa, quá trình tự động hoá này đã không đi xa hơn sự thử nghiệm khởi đầu của nó...

Đầu những năm 90, thông qua các chương trình hợp tác phát triển thông tin thư viện với các nước Canada, Mỹ, Nhật Bản ... và một phần dựa vào kinh phí Nhà nước, Viện bắt đầu sử dụng máy vi tính vào quá trình xử lý và tìm tin, cũng nhờ vậy, xây dựng được một số CSDL thông tin thư mục và tổ chức khai thác các CSDL nước ngoài trên các đĩa mềm và đĩa CD-ROM nhập về Viện.

Hiện nay, với hệ thống mạng cục bộ gồm 3 máy chủ và các máy tính nối mạng và một số trang thiết bị thông tin khác, Viện Thông tin Khoa học xã hội có những điều kiện vật chất nhất định để từng bước triển khai kế hoạch tin học hoá hoạt động của mình, mở ra khả năng chuyển giao và phục vụ thông tin mới dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại. Tuy vậy, công việc chỉ mới bắt đầu, tất cả còn đang ở phía trước. Tình hình và nhiệm vụ mới đang đặt ra cho Viện những đòi hỏi về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và trước hết về một đội ngũ cán bộ đủ năng lực giỏi chuyên môn và nghiệp vụ. Hơn bao giờ hết, vấn đề đào tạo (đào tạo lại và đào tạo mới) cán bộ lại trở nên cấp bách và có ý nghĩa quyết định như hiện nay.

IV. Về hợp tác quốc tế

Cùng với thời gian, với quá trình đổi mới, mở rộng và đa phương hoá các quan hệ quốc tế, trong những năm gần đây các hình thức hợp tác trong lĩnh vực thông tin thư viện cũng ngày càng phong phú, đa dạng. Từ năm 1979 Viện là cơ quan đại diện quốc gia – thành viên của MISON, từ năm 1979 là thành viên của APINESS. Viện đã ký một một số hiệp định hai bên, nhiều bên và khu vực về thông tin thư viện. Hiện nay Viện có quan hệ chính thức với hơn 80 trung tâm thông tin và thư viện lớn của hơn 30 nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, ấn Độ, ... với các quỹ như TOYOTA (Nhật Bản), Châu á, Ford, Christopher Roynolds, Obor (Mỹ), CIDA (Canada) ... về trao đổi và cung cấp sách báo, trao đổi thông tin tư liệu, trao đổi và đào tạo cán bộ, phát triển thư viện, hợp tác thực hiện công trình thông tin dịch thuật ... Và từ năm 2003, Viện chính thức trở thành thành viên của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội và tổ chức thư viện (IFLA).

Quá trình hoà nhập vào đời sống quốc tế, vào mạng thông tin khu vực và các nước, càng đòi hỏi Viện phải coi trọng hợp tác quốc tế, nhằm tranh thủ kinh nghiệm, tài trợ, nâng cao dần trình độ công nghệ thông tin và khoa học của đội ngũ cán bộ của Viện....; đồng thời qua hợp tác quốc tế, góp phần bảo đảm cho bạn bè quốc tế những thông tin trung thực, đầy đủ về Việt Nam và về con người Việt Nam hiện đại.

V. Kết luận

Thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao, Viện Thông tin Khoa học xã hội đã đạt được những thành tích đáng kể trong nghiên cứu và thông tin, thúc đẩy khoa học xã hội và nhân văn nước nhà phát triển, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những thành tích như vậy, Viện đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất nhân dịp tròn 20 tuổi (1975-1995).

Trong quá trình phát triển tiếp theo, với chủ trương hiện đại hoá hoạt động thông tin – thư viện, kích thích và thúc đẩy Khoa học xã hội nước nhà bắt kịp với sự tiến triển của khoa học xã hội khu vực và thế giới, Viện Thông tin Khoa học xã hội chắc chắn sẽ giải quyết được những thách thức đang đặt ra cho sự phát triển của mình.

 

                                                   Viện Thông tin Khoa học Xã hội


 



¬ Ban tổ chức kỷ niệm 30 năm Viện Thông tin Khoa học xã hội viết trên cơ sở Bài viết của GS. TS. Lại Văn Toàn in trong “Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia: 50 năm xây dựng và phát triển” Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 2003.

Được tạo bởi hadtt
Lần sửa cuối 08-10-2006 22:44
 
Giấy phép số 567/GP-BC do Bộ VH-TT cấp ngày 17/12/2004
Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS Hồ Sĩ Quý
26 Lý Thường Kiệt - Hà Nội. Điện thoại: 84.4.8253074