Hội thảo lần 3 đề tài khoa học cấp bộ năm 2023 - 2024 “Thanh tra, kiểm tra đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước”
Ngày đăng:  31/05/2025 | 09:41 SA | 534
Ngày 30/5/2025, trong khuôn khổ kế hoạch nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài khoa học cấp bộ năm 2024-2025: “Xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” do TS. Nguyễn Quốc Văn, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra (CL&KHTT) đã tổ chức Hội thảo lần 3.
...

Tại Hội thảo lần này với mục đích hoàn thiện Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài đã tập trung đi sâu phần thực trạng và đề xuất quan điểm định hướng và các giải pháp lâu dài, giải pháp trước mắt nhằm nâng cao hiệu quả xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam.

Theo chủ nhiệm đề tài, trong gần 2 thập kỷ qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) nói chung và kiểm soát tài sản thu nhập (KSTSTN) của người có chức vụ, quyền hạn nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc ban hành nhiều văn bản, chính sách, pháp luật. Thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/1/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, thời gian qua, trong hệ thống các cơ quan nhà nước, việc xác minh TSTN của người giữ chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam đã góp hần quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và đạo đức công vụ trong kê khai, công khai và giải trình nguồn gốc TSTN, góp phần phòng ngừa, phát hiện, xử lý người và xử lý tài sản có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.

Tuy nhiên, việc xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn hiện đang là khâu rất yếu, với việc tồn tại đồng thời nhiều hạn chế, bất cập trên các phương diện pháp lý và thực tiễn như: Việc thực hành xác minh TSTN gặp nhiều tình huống thực tiễn phức tạp, chưa có quy định và điều kiện đề thực hiện; Các rào cản chính trị, pháp lý (thủ tục xác minh TSTN còn thiều minh bạch, thống nhất, phức tạp, rối rắm; các chủ thể có trách nhiệm, có liên quan đến hoạt động xác minh TSTN phải bảo đảm quyền hiến định về tài sản và bí mật thông tin về tài sản của cán bộ, công chức, viên chức là đối tượng xác minh TSTN và các đối tượng có liên quan, phải tuân thủ các nguyên tắc về bảo đảm bí mật tài sản, bí mật ngân hàng, khách hàng theo pháp luật dân sự, ngân hàng, tổ chức tín dụng, chứng khoán, thuế,  hải quan, quản lý đất đai, đăng ký tài sản…, phải tuân thủ các điều ước quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế như UNCAC, UNODC mà Việt Nam là thành viên, tuân thủ các hiệp định và thông lệ thương mại quốc tế mà Việt Nam là thành viên – đối tác).

Nguyên nhân chính của những hạn chế của thực tiễn xác minh TSTN là do bất cập của khung thể chế có liên quan. Cụ thể, chính sách, pháp luật về kiểm soát TSTN nói chung, chính sách pháp luật về xác minh TSTN nói riêng hiện mới quy định ở mức độ chung, sơ khai và manh mún; chưa có quy định hoặc quy định chưa thống nhất, rõ ràng, minh bạch, cụ thể về nhiều vấn đề cơ bản, quan trọng về nội dung và thủ tục của kiểm soát xác minh TSTN.

Đề tài đã đưa ra các giải pháp như: Một là, về giải pháp lâu dài: Hoàn thiện pháp luật về PCTN; kiến nghị sửa đổi pháp luật hình sự; xây dựng đề án nghiên cứu về cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội; nghiên cứu đề án xây dựng cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Hai là, giải pháp trước mắt: Nghiên cứu ban hành quy trình xác minh TSTN; hồ sơ xác minh TSTN; Xử lý vi phạm và điều khoản thi hành.

Hội thảo đã lắng nghe nhiều ý kiến của các đại biểu tham dự. Các ý kiến  trao đổi, chia sẻ xoay quanh các nội dung như: Làm rõ bối cảnh và mục tiêu của công tác xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn trong thời gian tới; đề xuất quan điểm định hướng nâng cao hiệu quả xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn; đề xuất các giải pháp lâu dài và giải pháp trước mắt nhằm nâng cao hiệu quả xác minh TSTN của người có chức vụ, quyền hạn.

Theo đ/c Dương Ngọc Giao, Cục 4 Thanh tra Chính phủ chia sẻ thực tiễn công tác xác minh TSTN. Trong 2 năm 2022, 2023 Cục xác minh 30 người, nhưng chỉ kết luận được 18 người, còn lại đều do căn cứ các thông hiện có chưa đủ kết luận. Những bất cập như: Để đảm bảo tính trung thực việc kê khai, giải trình nguồn gốc tài sản thu nhập tăng thêm là rất khó. Người có chức vụ, quyền hạn cung cấp Căn cước công dân rồi (CCCD), tuy nhiên khi gửi đi các cơ quan xin thông tin thường phát sinh vấn đề CCCD vừa đổi mới, không thể lấy được thông tin vì trước đây họ dùng ở Ngân hàng là Chứng minh thư (CMT), có người còn giữ, người đánh mất, cán bộ làm công tác xác minh lại một quy trình theo quy định để có được thông tin theo CMT rất bất cập. Ngoài ra công tác kê khai không chuẩn chỉnh. Đề nghị sửa đổi Luật PCTN và ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cụ thể hơn, sửa đổi mẫu kê khai và tin học hóa.

Đ/c Bùi Nguyên Phúc, Cục 4, Thanh tra Chính phủ đánh giá đề tài có nội dung sâu rộng, tâm huyết.Thực tiễn cho thấy còn nhiều khó khăn và lúng túng trong nội dung gia hạn về thời gian xác minh. Giải pháp lâu dài và trước mắt, cần quy định rõ mạnh hơn đối tượng nào cần xác minh và xử lý người có hành vi tham nhũng, sau đó mới xác định thể chế.

Đ/c Trịnh Thu Phương, Ban Pháp chế Agribank chia sẻ những vướng mắc thực tiễn như có những thông tin không xác minh được, nó liên quan đến bí mật thông tin, rất khó để xác định thẩm quyền của họ để cung cấp. Xác minh người thân của người cần xác minh cũng rất khó, gần như không có căn cứ để xác minh.

Đ/c Nguyễn Danh Phương, Giám đốc Vietcombank Chi nhánh Thăng Long,chia sẻ, trách nhiệm của Ngân hàng là phải bảo mật thông tin, vậy cần có uy tín, trách nhiệm, nếu không sẽ có thể mất khách hàng. Theo quy định hiện hành những cơ quan được quyền trực tiếp yêu cầu Ngân hàng cũng cấp thông tin gồm: Cơ quan Công an, cơ quan điều tra của Bộ Công an, cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng, Viện KSND các cấp, Tòa án Nhân dân các cấp, cơ quan thuế, cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước, cơ quan phòng, chống rửa tiền của Ngân hàng Nhà nước. Do đó các cơ quan khác khi cần thông tin có thể thông qua Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước và cơ quan phòng, chống rửa tiền của Ngân hàng Nhà nước. Rất khó khăn về mẫu kê khai, xác định giá trị tài sản, trong khi diễn biến giá trị tài sản thay đổi từng ngày. Hiện tại để diện kê khai quá lớn dẫn đến tốn kém và khó thành công. Cần tập trung hơn vào tin học hóa.

Đ/c Phạm Gia Bảo, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống rửa tiền chia sẻ, đề tài rất tham vọng, nếu chúng ta thực hiện đúng sẽ rất chặt chẽ. Tham nhũng nhiều sẽ cần rửa tiền, cơ chế rửa tiền mà yếu sẽ tạo tham nhũng. Tiền và tài sản mang tính cá nhân, người cung cấp thông tin mà không đúng dễ phạm phải tội lột lọt thông tin cá nhân. Cần phải đồng bộ các luật, cần xoáy sâu sửa hệ thống pháp lý không chỉ riêng Luật Phòng chống tham nhũng.

Đ/c Phạm Hà Xuyên, Thanh tra Bộ Quốc phòng chia sẻ, chỉ có quy trình biến động, chưa có quy trình hợp pháp, rất khó khăn trong cung cấp thông tin. Cần khẩn trương ban hành quy trình xác minh TSTN.

Đ/c Nguyễn Hải Yến, Vụ Pháp chế, TTCP chia sẻ Vụ đang gấp rút sửa đổi Luật Phòng chống tham nhũng, tập trung vào những điểm trước mắt, sửa toàn diện sau. Thực tiễn cho thấy việc xác minh TSTN đang diễn ra rất tốn kém không đạt hiệu quả. Các giải pháp đề tài đưa ra khá đồng bộ, là tài liệu tốt để cán bộ tham khảo. Về giải pháp trước mắt cần điều chỉnh cho phù hợp với Luật Phòng chống tham nhũng 2025 sắp ban hành, đề tài cần bổ sung: Hoàn thiện trình tự nội dung kê khai; kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan Đảng, cơ quan kiểm tra Ngân hàng với chế giám sát của người dân, kênh thông tin người dân rất quan trọng.

Đ/c Nguyễn Thanh Liêm, Vụ Hợp tác quốc tế, Viện Kiểm sát tối cao cũng chia sẻ thêm kinh nghiệm các nước, trong đó đề tài có thể tham khảo 5 yếu tố: Về cơ quan xác minh: có tính độc lập, có quyền kết nối dữ liệu, truy cập dữ liệu; Về tính công khai của bản kê khai, vận dụng sự tham gia của bên thứ ba (như người dân) để đảm bảo tính trung thực, công khai trên mạng, không chỉ cán bộ kê khai mà kê khai cả họ hàng; Cách thức xác minh: ngẫu nhiên và có dấu hiệu vi phạm. Về chế tài rất nghiêm minh: thu hồi tài sản không thông qua kết tội, các quốc gia hạn chế được việc kê khai không chứng minh được; Về yếu tố công nghệ: kê khai điện tử, đối chiếu dữ liệu tự động, một dự án ở Úc đang triển khai việc các thông tin được tích hợp vào một hệ thống, chỉ cần tích vào tên người phải kê khai sẽ ra một loạt các mối quan hệ và thông tin.

Kết thúc Hội thảo, Chủ nhiệm đề tài phát biểu cảm ơn và tiếp thu ý kiến của các đại biểu tham dự để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện đề tài trong thời gian tới./.

Tin: Nguyễn Tuyết

Ảnh: Hữu Thắng